Hiển thị các bài đăng có nhãn Tìm Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tìm Việc Làm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 10 tháng 12, 2016

Giới thiệu với bạn vấn đề "Vàng xanh" còn xa tầm tay

Điều ông Minh trăn trở là Việt Nam chưa có một đề án cụ thể nào trong việc trồng cây để chế biến hương liệu. Ông Minh cho biết đang xúc tiến một số dự án rất khả thi, đó là dự án 240ha trồng ngò gai, hành, húng quế... dành cho nhãn hiệu mỳ Gấu Đỏ ở Xuân Lộc - Đồng Nai. Tiếp đó là ở huyện Chợ Lách, Gìông Trôm - Bến Tre, sử dụng bưởi chưa đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, hoặc tận dụng bưởi đã ép để làm hương liệu, cung cấp cho một công ty Hàn Quốc.
TS. Nguyễn Văn Minh, Phó chủ tịch Hiệp hội Tinh dầu, Hương liệu, Mỹ phẩm thừa nhận: Chúng ta đang bỏ lỏng hoàn toàn thị trường hương liệu thực phẩm...
Hiệp hội Tinh dầu, Hương liệu, Mỹ phẩm hiện có 80 doanh nghiệp hội viên, bao gồm cả trong và ngoài nước, nhưng đa phần các doanh nghiệp sản xuất, phân phối đều hoạt động trong ngành tinh dầu, hương liệu dành cho mỹ phẩm là chính, như nước hoa, xà phòng thơm, mỹ phẩm rửa mặt..., còn hương liệu thực phẩm thì rất ít.
95% doanh nghiệp sản xuất nước giải khát, thực phẩm sử dụng hương liệu công nghiệp Doanh nghiệp sản xuất nước giải khát rất muốn chủ động được nguồn hương liệu trong nước
Ông Minh cho biết, hiện Việt Nam nhập mỗi năm từ 150 - 200 triệu USD tinh dầu, hương liệu cho ngành mỹ phẩm, nhưng xuất khẩu chỉ khoảng 30 triệu USD với các mặt hàng thô, như tinh dầu sả, nước rửa chén, xà bông... Dù chưa có một tính toán cụ thể về kim ngạch nhập khẩu hương liệu dành cho chế biến thực phẩm, nhưng ước tính, ngoài hương liệu nhập khẩu phục vụ cho ngành bia, nước giải khát đã vài ba trăm triệu USD mỗi năm, thì riêng hương liệu dành cho cơ sở sản xuất thực phẩm nhỏ và vừa cũng phải trên 100 triệu USD/năm. 
Điều ông Minh trăn trở là Việt Nam chưa có một đề án cụ thể nào trong việc trồng cây để chế biến hương liệu. Ông Minh cho biết đang xúc tiến một số dự án rất khả thi, đó là dự án 240ha trồng ngò gai, hành, húng quế... dành cho nhãn hiệu mỳ Gấu Đỏ ở Xuân Lộc - Đồng Nai. Tiếp đó là ở huyện Chợ Lách, Gìông Trôm - Bến Tre, sử dụng bưởi chưa đạt tiêu chuẩn xuất khẩu, hoặc tận dụng bưởi đã ép để làm hương liệu, cung cấp cho một công ty Hàn Quốc.
Tận dụng nguồn trái cây dôi dư là hướng đi cần làm ngay, nhưng tính lâu dài, Việt Nam vẫn cần một vùng nguyên liệu hương liệu có quy hoạch, trong đó các loại cây lấy tinh dầu rất quan trọng.
Theo tính toán, một tấn tinh dầu quế sản xuất trong nước, có thể xuất khẩu với mức giá vài ngàn USD; một kg tinh dầu trầm giá 5.000USD... PGS. Đinh Xuân Bá, chuyên gia về cây tinh dầu cho biết, tại Việt Nam, nguồn cây nguyên liệu chiết xuất tinh dầu rất dồi dào, như bạc hà, hương nhu, bạch đàn, quế, hồi, sả... khá dễ trồng, không cần nhiều công sức, chịu được úng hay khô hạn, ít mắc sâu bệnh. Hiện Việt Nam có đến 300 loài cây cho tinh dầu đã được thu thập, nhưng chỉ 50 loài cây đã được trồng mang tính sản xuất hàng hóa, với diện tích khiêm tốn. Cả nước mới chỉ có khoảng vài trăm ha cho cây hương liệu như sả, bạch đàn chanh, tràm... rải rác ở các tỉnh Hòa Bình, Lạng Sơn, Hà Tĩnh...
Tiềm năng lớn nhưng doanh nghiệp và nông dân chưa đầu tư cũng bởi những ưu đãi dành cho lĩnh vực này không đáng kể. TS. Nguyễn Văn Minh kể, ông qua một số siêu thị ở Mỹ, thấy nhiều loại hương liệu mà chắc chắn là sản xuất tại Việt Nam, nhưng lại gắn mác sản xuất của Thái Lan. Tìm hiểu kỹ mới biết, mặc dù chuyên chế biến hương liệu, tinh dầu từ nông, lâm sản, nhưng các doanh nghiệp này vẫn chỉ đăng ký chức năng doanh nghiệp tại Việt Nam là sơ chế, bởi nếu làm xuất khẩu tinh, họ sẽ phải đóng mức thuế 25 - 30%, còn sơ chế chỉ 5%.
Thị trường hương liệu nhiều tiềm năng nhưng bị bỏ ngỏ
Thuế suất dành cho chế biến đã vậy, trồng trọt cũng khó chẳng kém. Ở Việt Nam, trồng cây lâm sản đánh thuế từ 0 - 5%, còn cây hương liệu thuế 15 -20%. Theo ông Minh, với cách làm này, doanh nghiệp và nông dân chịu thiệt ngay trên sân nhà. Nhà nước cần có chính sách khuyến khích phát triển trong thời gian đầu. Nếu tính ra, trồng cây hương liệu có giá trị gấp 5 lần trồng lúa, thế nhưng đa phần cây hương liệu đều bị đẩy vào vùng sâu, vùng xa, nên chất lượng không được tốt, giá thành cao.
Trên thế giới, thị trường cung cấp hương liệu thực phẩm lớn nhất là Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil, vì họ có những vùng chuyên canh và nhiều nhà máy chuyên sản xuất hương liệu. Một nhà máy ở Ấn Độ có thể bao tiêu cho hàng ngàn người nông dân trong vùng để chế biến từ cây nông nghiệp sang hương liệu thực phẩm, và nhận được hỗ trợ lớn từ chính phủ.
Trong khi đó, ở Việt Nam, có thể trồng 3.000ha lúa được, nhưng 3.000ha trồng cây hương liệu không dễ do không có chính sách bao tiêu. Với quốc tế, hương liệu mùa này có thể không bán vì giá thấp, có thể tích trữ lại bán năm sau. Nhưng ở Việt Nam, nếu không có chính sách hỗ trợ, khó ai có thể đủ lực để tích trữ với số lượng lớn như vậy. 

Chia sẻ cùng bạn về người quảng bá thương hiệu Việt trên trường quốc tế

Trong suốt những năm đại học (2000-2003, tốt nghiệp sớm một học kỳ), chàng sinh viên gốc Việt đã đạt danh hiệu "Sinh viên ưu tú toàn Mỹ", nằm trong số 0,1% sinh viên xuất sắc do tổ chức giáo dục của Mỹ The National Dean’s List cấp. Trí đã "sưu tập" được hàng loạt những giải thưởng ở xứ người trong suốt quãng thời gian ngồi ở giảng đường đại học Mỹ.
Từ Mỹ về Việt Nam thành lập 2 công ty phần mềm rồi "đem chuông đi đánh xứ người", doanh nhân trẻ Nguyễn Minh Trí muốn chinh phục những khách hàng khó tính tận ở trời Tây bằng thương hiệu Việt.
Xa quê hương từ năm 16 tuổi để bắt đầu chuyến hành trình học tập và làm việc nơi đất khách ngót 12 năm, Nguyễn Minh Trí (sinh năm 1982) là lứa du học sinh thế hệ 8x sang Mỹ sau khi hoàn tất chương trình tốt nghiệp lớp 9 tại Việt Nam. Cậu học trò chuyên Văn của trường Collete, quận 3, TP HCM, ngày nào đã gây bất ngờ khi liên tục lập thành tích trong ngành công nghệ thông tin, trở thành một kỹ sư phần mềm. Không dừng lại ở vai trò lập trình viên, Trí tiến đến việc dấn thân chốn thương trường, cùng đội ngũ cộng sự Việt - Mỹ của mình thắp lên ngọn lửa khát vọng: khẳng định thương hiệu Việt Nam trên trường quốc tế.
Chủ tịch HĐQT Công ty Công nghệ Việt (Viet Tech) Nguyễn Minh Trí, doanh nhân Việt kiều thế hệ 8x tại TP HCM. Ảnh: Vũ Lê.
Tốt nghiệp đại học tại Mỹ, Trí lập tức trở về nước, đặt viên gạch đầu tiên cho việc thành lập Công ty Công nghệ Việt (Viet Tech) và là Chủ tịch HĐQT công ty vào năm 2005. Doanh nghiệp chuyên sản xuất, gia công phần mềm và cung cấp các dịch vụ ứng dụng công nghệ thông tin, các giải pháp toàn cầu về dịch vụ hỗ trợ, tư vấn trên lĩnh vực phát triển phần mềm, thiết kế đồ họa, multimedia, mobile, networking...
Với công việc này, dù phải đi về giữa Mỹ và Việt Nam, Trí kỳ vọng tạo cơ hội cho các bạn trẻ trong nước tiếp cận môi trường làm việc chuyên nghiệp và góp phần đưa thương hiệu Việt Nam vươn ra thị trường Mỹ, Bắc Mỹ, tiếp cận với thị trường Nhật Bản, Bắc Âu. Từ khi thành lập đến nay, Viet Tech đã ký kết nhiều dự án trong và ngoài nước với những khách hàng lớn như: Tessi, Lenovo, Nailsuperstore…
Dường như bấy nhiêu vẫn chưa đủ, năm 2009, chàng doanh nhân trẻ tiếp tục thành lập Công ty cổ phần DVTM và Đầu tư Lực Việt (Viet Power Corporation) cung cấp các dịch vụ đa dạng như: dịch vụ tuyển dụng (với trang web iWork.vn), dịch vụ tư vấn kỹ thuật, dịch vụ truyền thông, đầu tư...
Trong suốt những năm đại học (2000-2003, tốt nghiệp sớm một học kỳ), chàng sinh viên gốc Việt đã đạt danh hiệu "Sinh viên ưu tú toàn Mỹ", nằm trong số 0,1% sinh viên xuất sắc do tổ chức giáo dục của Mỹ The National Dean’s List cấp. Trí đã "sưu tập" được hàng loạt những giải thưởng ở xứ người trong suốt quãng thời gian ngồi ở giảng đường đại học Mỹ.
Nguyễn Minh Trí tại văn phòng làm việc ở TP HCM. Ảnh: Vũ Lê.
Đó là: giải ba cuộc thi robot tự động vùng tây Mỹ; giải thưởng của Tổng thống Mỹ dành cho sinh viên có những đóng góp tích cực cho cộng đồng (The President's Student Service Award) với đề án cải tiến, nâng cấp quản lý Tổ chức từ thiện St.Vincent de Paul tại Portland; giải sinh viên đem khả năng lãnh đạo để giúp cho cộng đồng (Service Leadership Award); học bổng "E-Scholars"...
Chia sẻ về thời khóa biểu dày đặc của mình hiện nay, Trí cười hào sảng: "Chỉ cần có laptop và internet, một tuần làm việc 5,5 ngày, mỗi ngày làm 12 tiếng (6 tiếng xử lý việc tại Việt Nam và 6 tiếng cho công việc tại Mỹ), ngủ 5-6 tiếng mỗi đêm và những ngày nghỉ không đụng tới công việc, trừ tình huống khẩn cấp".
Trung tuần tháng 3, Chủ tịch HĐQT Công ty Viet Tech Nguyễn Minh Trí bộc bạch: "Tôi ý thức được mình là người may mắn và đã biến chúng thành sức mạnh rồi chia sẻ điều này với các cộng sự của mình để phát triển Viet Tech phục vụ cộng đồng".
Những giải pháp công nghệ đi vào cuộc sống sẽ giúp cho việc quản lý gọn nhẹ, nhanh chóng và chuẩn xác hơn, góp phần rút ngắn thời gian, kéo giảm chi phí dịch vụ, nâng cao chất lượng sống và bớt đi gánh nặng cho người dân. Trí nhận định trong tương lai không xa, Việt Nam sẽ đi theo xu hướng phát triển chung của thế giới là mở cửa tiếp nhận các giải pháp công nghệ và vận dụng vào đời thường.
Hào hứng kể về kế hoạch năm 2010, Trí cho biết, anh sẽ tập trung tiếp cận và cung cấp giải pháp công nghệ cho ngành y tế cộng đồng, chủ yếu chinh phục cho các đối tác, khách hàng tại châu Mỹ, đặc biệt là Bắc Mỹ. Năm 2010 sẽ khởi động cho kế hoạch tiếp cận thị trường Bắc Âu và Nhật Bản.
Năm 2007, Nguyễn Minh Trí được tạp chí Business Week bình chọn là một trong 25 doanh nhân trẻ xuất sắc của châu Á. Anh cũng là một trong 10 cá nhân xuất sắc Việt Nam được giải thưởng Quả cầu vàng và huy hiệu Tuổi trẻ sáng tạo do TW Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trao tặng. Năm 2008, Trí tiếp tục là người đứng đầu danh sách “25 Nhà kinh doanh trẻ Châu Á” do tạp chí BusinessWeek bình chọn.
Ngoài ra, kế hoạch dành cho Việt Nam là nâng cấp và hoàn thiện hai trang web hỗ trợ cộng đồng người Việt gồm: MyWorld (dành cho người học tiếng Anh), iWork.vn (cung cấp thông tin về việc làm). "Tôi xem đây là nghĩa vụ đối với cộng đồng người Việt, đặc biệt là giới học sinh, sinh viên. Các trang web không chỉ là một kênh học tập hữu hiệu, sân chơi bổ ích mà còn là nhịp cầu kết nối mọi người gần nhau hơn".
Lý giải việc lập công ty phần mềm tại quê nhà trong khi điều kiện làm việc và phát triển tại Mỹ rất thuận lợi, Trí chia sẻ: "Trước hết tôi là người Việt, bao nhiêu đó đã đủ để trở về. Sau nữa là vì gia đình tôi, thân bằng quyến thuộc tại quê hương. Thêm nữa, cơ hội phát triển ngành công nghệ thông tin tại Việt Nam rất lớn. Và cuối cùng, vì tôi khao khát khẳng định thương hiệu Việt trên trường quốc tế".
Quan niệm của chàng doanh nhân trẻ về làm giàu không phải là kiếm được bao nhiêu tiền và bằng cách nào. Triết lý làm giàu của anh gói gọn trong hai từ tri thức: "Làm giàu là tiếp cận càng gần vốn tri thức hiện đại càng tốt để làm chủ tri thức. Với vốn luyến này, con người không chỉ hái ra tiền cho bản thân mà còn đóng góp tích cực cho sự phát triển của xã hội".
12 năm sống ở xứ người nhưng vẫn giữ được những thói quen và sở thích rất Việt Nam, chàng trai xuất thân từ gia đình trung lưu đất Sài thành không dối lòng mình rằng, rất mê ngồi ăn ở các quán nhỏ ven đường nội đô Sài Gòn, thích nhất là nhâm nhi trái cây đặc trưng của miền Nam như: cóc, ổi, sơ ri. "Món không thể nào quên có lẽ là canh rau đay, cà pháo chấm mắm tôm hương vị Bắc do mẹ nấu. Những lúc ở Mỹ, khi đêm về, nỗi nhớ thường trực đều hướng về gia đình, bè bạn ở Việt Nam và đặc biệt là dành cho mẹ", Trí tâm sự.

Cùng tim hiểu vè việc OperaMini cho iPhone thật tuyệt

Có vẻ như Opera và cộng đồng người dùng đang rất nóng lòng và hồi hộp, họ đã tạo ra một phần mềm để đếm thời gian từ khi Opera Mini 5 được đệ trình lên Apple cho tới khi nó được Apple đồng ý. Opera đã nghĩ ra ý tưởng này nhằm thu hút đông đảo người dùng và tạo sức ép lên Apple, giúp Opera Mini 5 của họ xuất hiện trên iPhone.
Tại MWC (Mobile World Congress) 2010, Opera đã giới thiệu phiên bản trình duyệt web nổi tiếng của mình dành cho iPhone, Opera Mini 5. Mới đây, Opera Mini 5 đã được đệ trình lên Apple và chờ "quả táo" phê chuẩn để trình duyệt này có thể xuất hiện trên App Store. Cả cộng đồng người dùng Opera và iPhone đang nóng lòng chờ quyết định cuối cùng từ Apple.
Mọi ứng dụng, trò chơi muốn có mặt trên iPhone đều phải chờ phán quyết của Apple, nếu Apple đồng ý thì những ứng dụng, game này mới có thể được bán hay xuất hiện trên App Store. Điều khiến Opera lo ngại về khả năng bị Apple từ chối đó là iPhone đã có sẵn Safari và Apple không muốn iPhone có thêm bất kỳ trình duyệt nào khác.
Hơn thế nữa, Opera Mini 5 còn hơn Safari ở một số tính năng, đặc biệt là tính năng nén dữ liệu trước khi tải xuống (dữ liệu của trang web sẽ được nén trên server trước khi được tải xuống máy điện thoại) giúp cải thiện đáng kể tốc độ; duyệt web theo các tab, quay số nhanh...
Có vẻ như Opera và cộng đồng người dùng đang rất nóng lòng và hồi hộp, họ đã tạo ra một phần mềm để đếm thời gian từ khi Opera Mini 5 được đệ trình lên Apple cho tới khi nó được Apple đồng ý. Opera đã nghĩ ra ý tưởng này nhằm thu hút đông đảo người dùng và tạo sức ép lên Apple, giúp Opera Mini 5 của họ xuất hiện trên iPhone.
Tính tới thời điểm tôi viết bài viết này, trình duyệt Opera Mini 5 đã được đệ trình lên Apple khoảng 2 tiếng 23 phút, phần mềm vẫn tiếp tục đếm và Opera vẫn tiếp tục chờ. Nếu bạn, những người dùng iPhone và yêu thích Opera muốn trình duyệt Opera Mini 5 có mặt trên iPhone thì hãy tham gia dự đoán số thời gian còn lại tại đây và trên hết là hy vọng Apple sẽ đồng ý.

Chia sẻ cùng bạn về chi phí đầu tư quảng cáo trực tuyến đạt 15,5 triệu USD

Mạng Internet đóng vai trò ngày càng quan trọng trong cuộc sống, nhưng quảng cáo qua mạng chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng đầu tư quảng cáo và con số này thấp hơn so với các nước cùng khu vực Đông Nam Á. 
Công ty Nghiên cứu Thị trường Cimigo vừa công bố bản báo cáo chi tiết doanh thu quảng cáo trực tuyến tại Việt Nam. Theo đó quy mô thị trường quảng cáo trực tuyến ở Việt Nam ước đạt 15,5 triệu USD (tương đương 278 tỷ đồng).
Theo ông Lukas Mira, Giám đốc trực tuyến của Cimigo: Dù còn non trẻ, nhưng thị trường quảng cáo Việt Nam đã tăng trưởng 71% so với năm 2008. Tuy nhiên, thị trường quảng cáo trực tuyến ở Việt Nam vẫn chưa theo kịp đà tăng trưởng.

Mạng Internet đóng vai trò ngày càng quan trọng trong cuộc sống, nhưng quảng cáo qua mạng chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng đầu tư quảng cáo và con số này thấp hơn so với các nước cùng khu vực Đông Nam Á. 

“Để tiếp cận với một người dùng Internet, các nhà quảng cáo chỉ mới chi 50 cents (tương đương 10.000 đồng) mỗi năm. Trung Quốc chi gấp 15 lần con số này”, ông Brian Pelz, đồng sáng lập Vinagame và thành viên của ban điều hành IAB, nhận xét.

Mạng Internet đang trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống cá nhân cũng như kinh doanh tại Việt Nam. Đây cũng là một kênh thông tin cực kì quan trọng cho các nhà quảng cáo để tiếp cận khách hàng. 

“Hơn nửa dân số Việt Nam tiếp cận Internet và trung bình họ dành hơn hai tiếng đồng hồ lướt mạng. Tuy nhiên các nhà quảng cáo vẫn còn hoài nghi về việc sử dụng kênh thông tin này để tiếp cận các đối tượng khách hàng”, ông Lukas Mira nhận xét.

Cũng theo đại diện của Cimigo: Có nhiều nguồn dữ liệu về quy mô cũng như cơ cấu của thị trường quảng cáo trực tuyến Việt Nam. Tuy nhiên, phần lớn các số liệu này đều mang tính tương đối và không áp dụng phương pháp đo lường rõ ràng và minh bạch…

Cùng tìm hiểu vấn đề: Khi cà phê "sủi bọt"

Gần đây, để tránh tình trạng doanh nghiệp xuất khẩu cà phê thô bị đối tác nhập khẩu ép giá, Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam khuyến cáo, doanh nghiệp không nên chế biến cà phê thô. Thay vào đó, nên tập trung đầu tư chế biến cà phê hòa tan để tăng giá trị kinh tế. Đây cũng là nguyên nhân khiến thị trường cà phê hòa tan trở nên cạnh tranh gay gắt và đẩy mức tăng trưởng hằng năm tăng từ 20 - 25%.
Với nguồn nguyên liệu dồi dào, tiềm năng tiêu thụ nội địa cao, thị trường cà phê đang tạo súc hút cho các doanh nghiệp đầu tư. Dù vậy, với hơn 30 thương hiệu và hàng trăm sản phẩm thì đây là thị trường đầy rủi ro
Mùi thơm quyến rũ
Theo tính toán của Công ty Nestlé (chủ thương hiệu Nescafé), chỉ cần người tiêu dùng trong nước tăng thêm một ly cà phê, tức uống 42 ly cà phê/năm thì Nescafé tăng thêm 15% doanh số. Con số này cho thấy tiềm năng của thị trường cà phê tại Việt Nam đang ở mức tăng trưởng cao.
Trong khi kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam những năm gần đây có chiều hướng giảm sút, thì theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới (WB), tiềm năng thị trường cà phê nội địa của Việt Nam có thể tiêu thụ tới 70.000 tấn/năm.Các doanh nghiệp sản xuất cà phê trong nước đều cho rằng, so sánh với các nước thì mức tiêu thụ cà phê tại thị trường nội địa còn rất nhiều tiềm năng.
Theo thống kê của Hiệp hội Cà phê Thế giới, sản lượng tiêu thụ cà phê nội địa của Việt Nam chỉ chiếm khoảng 5%, còn rất thấp so với mức tiêu thụ 25,16% của các quốc gia sản xuất cà phê trên thế giới. Cụ thể, số lượng ly cà phê tiêu thụ trên đầu người ở Đức hiện nay là 689 ly/năm, Anh là 466 ly/năm, Thái Lan 165 ly/năm, Philippines 156 ly/năm, Malaysia 126 ly/năm..., trong khi Việt Nam mới 41 ly/năm.
Ông Vũ Quốc Tuấn, Trưởng Phòng Đối ngoại Nestlé, cho biết: “Nhu cầu tiêu dùng cà phê trong nước hiện đang tăng nhanh với hai phân khúc rất rõ: Cà phê rang xay (cà phê phin) chiếm 2/3 sản lượng cà phê đựơc tiêu thụ và cà phê hòa tan chiếm 1/3. Tuy nhiên, cà phê hòa tan lại thu hút các nhà sản xuất bởi hợp với xu hướng tiêu dùng nhanh của giới trẻ và thói quen uống cà phê hòa tan đã được người tiêu dùng định hình. Mặt khác, do cà phê rang xay vốn bị mất uy tín vì pha trộn nhiều phụ gia, khó xuất khẩu và không phù hợp thị hiếu tiêu dùng nước ngoài nên các doanh nghiệp dồn vào phân khúc cà phê hòa tan, với hy vọng xây dựng thành công thương hiệu trong nước sẽ quay sang xuất khẩu”.
Gần đây, để tránh tình trạng doanh nghiệp xuất khẩu cà phê thô bị đối tác nhập khẩu ép giá, Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam khuyến cáo, doanh nghiệp không nên chế biến cà phê thô. Thay vào đó, nên tập trung đầu tư chế biến cà phê hòa tan để tăng giá trị kinh tế. Đây cũng là nguyên nhân khiến thị trường cà phê hòa tan trở nên cạnh tranh gay gắt và đẩy mức tăng trưởng hằng năm tăng từ 20 - 25%.
Tiên phong trong sản xuất cà phê hòa tan và tập trung vào thị trường nội địa, Vinacafé đã chứng minh thành công bằng con số 50,4% thị phần. Năm 2009, mặc dù bị ảnh hưởng cơn bão tài chính và khủng hoảng kinh tế thế giới, thị trường tiêu thụ gặp nhiều khó khăn, giá nhiên liệu bất ổn, tỷ giá ngoại tệ tăng cao, nhưng nhờ thị trường nội địa ổn định, Vinacafé vẫn đảm bảo tốc độ tăng trưởng từ 15-20%. Tương tự, Nescafé cũng giữ vững 33,2% thị phần, doanh thu năm 2009 tăng trưởng 42%.
Theo ước tính của Công ty Nghiên cứu thị trường Euromonitor, tăng trưởng sản lượng của ngành cà phê hòa tan tại Việt Nam năm 2009 đạt 9,3% và ước tính đạt 10% vào năm 2010.
"Càng hòa, càng tan"
Trước thành công của Vinacafé, Nescafé, G7, hàng loạt thương hiệu cà phê hòa tan như Moment, Max Coffee, Ten Ten Coffee, GoldRooast, Gof Coffee, Thái Hòa, An Thái, Phú Thái, CADA, VICA, Rock Coffee, VIP Coffee, Thu Hà, Bradford, V-Coffee... cũng đua nhau gia nhập thị trường khiến phân khúc này cạnh tranh ngày càng gay gắt. Tính ra có đến 30 thương hiệu trong thị trường này!
Trong khi đó, theo đánh giá của Công ty Nghiên cứu thị trường TNS, thị trường cà phê hòa tan đang có chiều hướng bão hòa. Ngoài rất ít các thương hiệu có thị phần ổn định từ 10 - 50% như Vinacafé, Nestlé, G7, hầu hết các thương hiệu khác, dù tung ra nhiều chiêu quảng cáo tiếp thị rầm rộ, chi phí đầu tư lớn nhưng cũng chỉ chiếm thị phần khiêm tốn (từ 1 - 3%) với dấu ấn cũng mờ nhạt, thậm chí có thương hiệu đã thất bại.
Người tiêu dùng chọn mua cà phê G7 ở siêu thị Coopmart
Vinamilk sau khi đầu tư 20 triệu USD để xây dựng nhà máy sản xuất cà phê, cũng mạnh dạn bỏ ra 2 triệu USD để sử dụng hình ảnh, logo, thương hiệu và hình ảnh các cầu thủ của Arsenal quảng cáo cho cà phê hòa tan Moment, với tham vọng thương hiệu này sẽ chiếm được 5% thị phần đồng thời giúp cho nhà máy sản xuất cà phê Moment (1.500 tấn/năm) tại KCN Mỹ Phước - Bình Dương có khả năng bán được 1.000 tấn cà phê hòa tan.
Thế nhưng, mới chỉ đóng góp 1% vào tổng lợi nhuận của Vinamilk và đạt 3% thị phần thì Moment đã tụt xuống dần dần và Công ty phải tạm dừng sản xuất sản phẩm này. Tương tự, Công ty Vinamit sau một thời gian chen chân vào thị trường này với sản phẩm V-Coffee hòa tan cũng phải rút lui.
Ông Nguyễn Lâm Viên, Tổng giám đốc Công ty Vinamit cho biết: “Thị trường cà phê hòa tan, nhất là cà phê 3 trong 1 cạnh tranh rất khốc liệt nên các thương hiệu mới rất khó khăn. Đặc biệt, cà phê 3 trong 1 có sữa nên bảo quản rất khó, nếu bán chậm sẽ ảnh hưởng đến chất lượng. Một thực tế khác là hiện nay, không ít thương hiệu cà phê hòa tan sử dụng hương liệu cho hợp gu người tiêu dùng nên giá thành rẻ hơn những thương hiệu sử dụng mùi hương nguyên chất, gây bất lợi cạnh tranh”.
Gia nhập thị trường từ tháng 11/2009 và cũng được “ưu ái” khi các “chiến lược đầu tư, quảng bá lớn nhất trong năm 2009 của Tân Hiệp Phát được dồn hết vào cà phê VIP" nhưng thương hiệu này cũng chưa tạo dấu ấn với người tiêu dùng. Ông Lê Hồng Minh, Giám đốc đối ngoại của Tân Hiệp Phát, cho biết: “Sự chọn lựa sản phẩm của khách hàng cũng mới dừng ở mức "thử cho biết", và phần lớn vẫn cho rằng hương vị có phần thiếu đậm đà. Riêng một số chuyên gia thương hiệu thì cho rằng, thiết kế chai đựng cà phê VIP không ấn tượng, thiếu độ sang trọng. Có thể sau 9 tháng rà soát thị trường, Tân Hiệp Phát sẽ có những điều chỉnh”.

Giới thiệu với bạn về đổi màu cạnh tranh

Từng đạt doanh thu khá cao ở thị trường nước ngoài và có bề dày thương hiệu lâu năm, nhưng khi vào Việt Nam, Nestcafé vẫn không thành công như ở các thị trường khác, nhất là tham vọng vị trí số một trên thị trường. Ông Vũ Quốc Tuấn cho biết: “Sau nhiều năm nghiên cứu, Nestlé nhận ra nguyên nhân nằm ở gu người tiêu dùng Việt Nam, (nhất là giới trẻ không thích cà phê sữa). Vì vậy, năm 2008, Nestlé đã cho ra thị trường sản phẩm cà phê Việt 2 trong 1 (vị đậm, uống giống cà phê pha phin) và đã rất thành công. Chỉ một thời gian ngắn, khối lượng sản phẩm của cà phê Việt đã vượt 10.000 tấn/năm, thị phần đang ở 33,2% tăng lên 38%. Nhờ vậy, năm 2009, doanh thu Nestlé đã tăng trưởng 42%, dự kiến năm nay vượt 1.000 tỷ đồng.
Thành bại do “gu”
Vinamilk tung ra sản phẩm mới Vinamilk Coffee với sự thay đổi hoàn toàn mới: Hương vị đậm đà, đen sánh theo kiểu cà phê phin truyền thống. Song song đó, các quảng cáo cũng được Vinamilk đầu tư kỹ, mang ra nước ngoài thiết kế nhằm đưa thương hiệu đạt đến chuẩn quốc tế. Ngoài ra, việc lấy tên thương hiệu có gắn chữ Vinamilk cũng là cách dựa vào uy tín của Vinamilk để thu hút người tiêu dùng, cũng như ưu thế về hệ thống cung cấp, hệ thống đại lý và quan hệ với các siêu thị lớn trên toàn quốc để thâm nhập thị trường.
Nhiều đánh giá cho rằng, Vinamilk mạo hiểm khi sử dụng thương hiệu của Tập đoàn trong khi thị trường cà phê trở nên chật hẹp và chính Vinamilk từng thất bại với Moment. Tuy nhiên, dù rủi ro nhưng Vinamilk buộc phải tiếp tục đầu tư cà phê để giảm thiểu rủi ro khấu hao của nhà máy chế biến đã hình thành.
Ông Phan Khắc Hiếu, Phó tổng giám đốc Công ty TNHH Quốc tế Cao Nguyên Xanh (chủ thương hiệu Rockcafe) cho biết: “Người nước ngoài uống cà phê như uống trà nên gu cà phê phải lạt, trong khi đó, người Việt lại thích hương vị đậm, uống nhâm nhi. Vì vậy, tìm đựơc gu thị trường để đáp ứng sẽ quyết định đến 80% thành công”.
Từng đạt doanh thu khá cao ở thị trường nước ngoài và có bề dày thương hiệu lâu năm, nhưng khi vào Việt Nam, Nestcafé vẫn không thành công như ở các thị trường khác, nhất là tham vọng vị trí số một trên thị trường. Ông Vũ Quốc Tuấn cho biết: “Sau nhiều năm nghiên cứu, Nestlé nhận ra nguyên nhân nằm ở gu người tiêu dùng Việt Nam, (nhất là giới trẻ không thích cà phê sữa). Vì vậy, năm 2008, Nestlé đã cho ra thị trường sản phẩm cà phê Việt 2 trong 1 (vị đậm, uống giống cà phê pha phin) và đã rất thành công. Chỉ một thời gian ngắn, khối lượng sản phẩm của cà phê Việt đã vượt 10.000 tấn/năm, thị phần đang ở 33,2% tăng lên 38%. Nhờ vậy, năm 2009, doanh thu Nestlé đã tăng trưởng 42%, dự kiến năm nay vượt 1.000 tỷ đồng.
Dù mới gia nhập thị trường 5 tháng, nhưng ngay từ đầu, Rockcafe cũng đã xác định được khách hàng mục tiêu là giới trẻ, nên gu cà phê cũng theo hướng “phục vụ” thị hiếu, chiều theo thị trường, kết hợp với nhiều chương trình quảng bá, tiếp thị với kinh phí gần 10 tỷ đồng, nên chỉ một thời gian ngắn, tốc độ tăng trưởng của nhãn hiệu này đã là 70%. Song, theo ông Hiếu, cái khó của các doanh nghiệp chế biến cà phê uống nhanh là ngoài việc tìm ra thói quen còn phải tạo ra phong cách riêng cho người uống. Vì vậy, “gu” của Rockcafe không chỉ là hương vị mà còn nằm ngay cả trong tên gọi: Rock - một phong cách trẻ, khỏe, năng động, mạnh mẽ.
Tuy nhiên, theo ý kiến của ông Nguyễn Thanh Tùng, Trưởng Phòng Marketing Vinacafé, nếu nhà sản xuất cà phê chiều theo gu thị trường thì sẽ thành công nhưng chỉ trong ngắn hạn, bởi trong dài hạn, khi trình độ dân trí ngày càng cao, người ta càng có xu hướng tiêu dùng các sản phẩm an toàn, có lợi cho sức khỏe. Khi đó những sản phẩm sạch, nguyên chất, không pha hương liệu, hóa chất mới có thể chiếm lĩnh thị trường.
Khó khăn tìm khác biệt
Nhãn hiệu cà phê Birdy (Công ty Ajinomoto Calpis) cũng tạo ra một khác biệt lớn với cà phê lon, tiện lợi hơn nhiều so với cà phê hòa tan. Đây là sản phẩm của Nhật được sản xuất tại Thái Lan, nhập trực tiếp về Việt Nam và Công ty Ajinomoto Việt Nam phân phối. Tiếp sau Birdy, Nescafé cũng nhảy vào thị trường mới này. Tuy nhiên, sản phẩm này cũng rất khó khăn tìm chỗ đứng trên thị trường. Nguyên nhân cũng không có gì khác: không đúng sở thích và thói quen dùng cà phê của người tiêu dùng Việt Nam. Có hãng phải đưa hàng về khu vực nông thôn hoặc các địa phương... không có truyền thống uống cà phê. Có hãng đang tồn hàng triệu lon và đang nỗ lực tìm cách bán trong mùa World Cup sắp tới.
Ông Đoàn Đình Hoàng, chuyên gia tư vấn thương hiệu cho biết: “Trong cuộc đua cạnh tranh, nếu doanh nghiệp không tạo ra phân khúc thị trường, cũng như tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm, dịch vụ thì sẽ khó thành công”. Đây cũng là thách thức lớn cho các doanh nghiệp chế biến cà phê.
Ông Lê Hồng Minh, giám đốc đối ngoại của Tân Hiệp Phát cho biết: “Sự khác biệt rõ nhất khi cà phê VIP xuất hiện là đựng trong chai nhựa, chứ không phải lon". Ông Minh cho rằng, sở dĩ cà phê VIP được đóng trong chai nhựa nhằm mục đích cho người tiêu dung nhìn thấy được cà phê bên trong, tạo cảm giác ngon hơn. Hơn nữa, nếu người dùng uống chưa hết, có thể vặn nắp lại và uống sau".
Do quá mới nên chưa thể đánh giá mức độ thành công của VIP, nhưng theo ý kiến của một số giám đốc marketing, xem ra tạo sự khác biệt cho cà phê theo cách uống giải khát, hương vị lạt là một hướng đi “khá liều” của Tân Hiệp Phát.
Ông Minh cũng cho biết, năm 2009, đáng lẽ công ty tung thêm hàng chục loại sản phẩm mới, nhưng cuối cùng Tân Hiệp Phát chỉ quyết định tập trung cho nhãn hiệu cà phê VIP. Công ty cũng không loại trừ khả năng tiếp tục tung ra sản phẩm mới, hoặc thêm sản phẩm đóng hộp giấy, lon. Nhưng phải sau khi rà soát lại thị trường, Tân Hiệp Phát mới có những điều chỉnh.
Mở rộng kênh tiếp thị, quảng bá thương hiệu và tiêu thụ nội địa bằng cách phục vụ nhu cầu thưởng thức cà phê hòa tan hay pha sẵn cũng đang là cách đi “tìm sự khác biệt” mà một số công ty cà phê đang lựa chọn. Sau ba lần "tấn công" thị trường TP.HCM và phía Nam nhưng vẫn thất bại, thương hiệu cà phê Thu Hà (Pleiku) đang tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng bằng cách mở những tiệm phục vụ uống cà phê như "chuỗi" cửa hàng cà phê Trung Nguyên, Highland, Phúc Ban Mê, Cà phê Buôn Mê Thuột...
Thành công của các cửa hàng này cũng ở nhiều mức độ khác nhau, nhưng theo ông Nguyễn Lâm Viên, đây là cách tạo sự khác biệt rất hiệu quả về quảng bá thương hiệu như chuỗi cửa hàng cà phê Trung Nguyên trước đây. Mới đây, Trung Nguyên lại mở một “đại dương xanh” khác bằng cà phê Passiona cho phụ nữ.
Ông Bùi Xuân Thoa, Giám đốc Công ty cổ phần Cà phê Biên Hòa (Vinacafé) cho biết: “Cái mà chúng ta cần làm bây giờ chính là thay đổi suy nghĩ của các nhà sản xuất cà phê rang xay Việt Nam. Cần có cà phê xay nguyên chất để có cơ hội xuất khẩu sản phẩm này. Nó vừa phù hợp xu hứơng tiêu dùng trong nước, vừa phù hợp điều kiện tài chính và lợi thế cạnh tranh của Việt Nam”. 

Khám phá câu chuyện: Truyền thông xã hội trở thành ngành kinh doanh nghiêm túc

Ronald Coase, một giáo sư tại trường đại học Chicago, người đã đoạt giải Nobel kinh tế cho nghiên cứu chỉ ra mối liên quan giữa chi phí giao dịch và cấu trúc doanh nghiệp. Trong cuốn "Bản chất doanh nghiệp" xuất bản năm 1937, Coase đã nghiên cứu về sự ảnh hưởng của chi phí liên lạc lên quy mô của doanh nghiệp. Ông nhận ra rằng chi phí liên lạc hay giao dịch kích thích sự gia tăng chức năng trong doanh nghiệp - có thể giải thích như sau, ví dụ như, sử dụng chiến lược hội nhập theo chiều dọc giữa những năm của thế kỷ 20 - một chiến lược sau đó đã bị đa số từ bỏ khi chi phí liên lạc giảm
Hầu hết các lãnh đạo cấp cao tôi gặp đều nhún vai làm ngơ khi tôi nhắc khả năng ứng dụng của Web 2.0. Họ sẽ chỉ cân nhắc việc cho phép tiếp cận mạng xã hội trong giờ làm việc nếu nó thật sự cần thiết để những nhân viên trẻ khỏi kêu ca. Twitter ư? Nó là cái gì chứ?  
Truyền thông xã hội đang trên con đường trở thành một phần không thể thiếu trong các phương thức làm việc như là một công cụ chính trong doanh nghiệp.
Những cuộc đối thoại tôi có với các lãnh đạo cấp cao này thật sự thay đổi rất nhiều. Họ thừa nhận rằng công nghệ 2.0 có thể được sử dụng để thay đổi cách hoàn thành công việc một cách cơ bản nhất. Những thú vị khi khám phá một phương cách làm việc mới, chia sẻ thông tin, cộng tác nhằm nâng cao năng suất và đạt được mục tiêu của doanh nghiệp đều có thể được tìm thấy ở đây.
Những tiến bộ trong khả năng giao tiếp luôn thay đổi cái cách mà chúng ta sống và làm việc - hai hoạt động không thể tách rời. Sự xuất hiện của chữ viết đã phát triển một xã hội Ai Cập phân tầng phức tạp khi các nhà cầm quyền có khả năng chứng minh quyền cai trị và đưa ra mệnh lệnh; ngành công nghiệp in ấn giúp đề cao dân chủ bằng cách truyền bá thông tin rộng rãi trong quần chúng, điện tín cho phép các thành phố chính phát triển với sự cách biệt về địa lý giữa trụ sở chính và các nhà mày.
Và cho đến nay, cũng như sự chấp nhận đầy do dự thế hệ Web 2.0, những tiến bộ trong khả năng giao tiếp luôn gặp những phản đối đáng kể. Những đánh giá ban đầu về điện thoại cho rằng nó sẽ chủ yếu được dùng cho các ứng dụng xã hội, phi kinh doanh. Các doanh nghiệp cần đến một công nghệ không có khả năng lưu trữ đối thoại làm gì khi đã có điện tín như một phương tiện thay thế? Các đánh giá ban đầu về công nghệ cơ bản trong ngành công nghệ sao chụp cũng tương tự - không ai có thể tưởng tượng lý do gì khiến các được doanh nghiệp cần tài liệu sao chép. Thật khó để hình dung những lợi ích mà phương thức giao tiếp mới có thể mang lại, và cũng thật dễ dàng để loại bỏ những công nghệ mới như những điều phù phiếm.
Nhưng rõ ràng bất cứ khi nào khả năng giao tiếp được mở rộng, có những thứ tiên đoán trước sẽ xảy ra: Phạm vi giao tiếp (khoảng cách và tốc độ tạo giao tiếp) tăng đáng kể và khả năng tương tác lớn giúp chúng ta tổ chức, chuyển dịch quyền lực, và phương thức hoàn thành công việc.
Ronald Coase, một giáo sư tại trường đại học Chicago, người đã đoạt giải Nobel kinh tế cho nghiên cứu chỉ ra mối liên quan giữa chi phí giao dịch và cấu trúc doanh nghiệp. Trong cuốn "Bản chất doanh nghiệp" xuất bản năm 1937, Coase đã nghiên cứu về sự ảnh hưởng của chi phí liên lạc lên quy mô của doanh nghiệp. Ông nhận ra rằng chi phí liên lạc hay giao dịch kích thích sự gia tăng chức năng trong doanh nghiệp - có thể giải thích như sau, ví dụ như, sử dụng chiến lược hội nhập theo chiều dọc giữa những năm của thế kỷ 20 - một chiến lược sau đó đã bị đa số từ bỏ khi chi phí liên lạc giảm.
Harold Adams Innis, một giáo sư tại trường đại học Toronto, đã chỉ ra các kết quả có thể tiên đoán trước bất cứ khi nào chi phí liên lạc giảm trong tác phẩm năm 1951 của ông có tên "Xu hướng của liên lạc". Dù bắt đầu viết trước sự ra đời của thế hệ Web 2.0, rất nhiều tiên đoán của ông đã phản ánh chính xác những xu hướng ngày nay:
- Tái phân bố kiến thức, vì vậy, chuyển dịch quyền lực
- Giúp những người không chuyên có thể cạnh tranh với những người chuyên nghiệp, do có thể tiếp cận kiến thức bất cứ lúc nào thay cho quá trình nghiên cứu thu thập phức tạp
- Cho phép các cá nhân và nhóm thiểu số đưa ra ý kiến
- Giảm lợi thế tốc độ khi một số người biết thông tin trước những người khác
- Giảm lợi thế quy mô hay khả năng chịu được chi phí cao của các tổ chức lớn
Tôi tin rằng tác động của công nghệ kết hợp trong thập kỷ vừa qua, ví dụ như Web 2.0, sở hữu quyền năng to lớn tác động đến phương thức sống và làm việc như những công nghệ đột phá khác trong quá khứ - công nghệ in ấn, điện tín, mạng Internet - đã từng mang lại. Những công nghệ ngày nay cho phép con người tương tác mà không cần bận tâm đến phương thức tương tác, nhờ sự tồn tại sẵn sàng của các kiểu mẫu và cấu trúc, cho phép các hành động diễn ra không đồng nhất và mang tính ảo. Quan trọng hơn, các phép toán tìm kiếm phức tạp cho phép chúng ta tìm ra thứ chúng ta cần trong một biển thông tin. Nó đồng thời cải thiện cái cách mà chúng ta tạo ra, lưu giữ, và chia sẻ thông tin, giúp người sử dụng tìm được các nguồn hữu dụng, khơi nguồn cho đổi mới và chuyên môn, và tận dụng được "trí tuệ đám đông".
Ngày nay, biên giới của năng lực sản xuẩt của con người nằm ở sức mạnh hợp tác mở rộng - khả năng làm việc liên kết không bị giới hạn trong nhóm nhỏ nhờ sử dụng các công cụ hợp tác mới.
Đoàn tàu đã rời sân ga. Truyền thông xã hội đang trên con đường trở thành một phần không thể thiếu trong các phương thức làm việc như là một công cụ chính trong doanh nghiệp. Các bạn có thể thấy rằng câu truyện về cách vận dụng công nghệ của các doanh nghiệp đang ngày càng thú vị.

Chia sẻ cùng bạn về 3D – Điểm kích hoạt mới

Xóa thế độc quyền của MegaStar, ngày 9/4, Galaxy Studio sẽ khai trương và đưa vào sử dụng hai phòng chiếu 3D hiện đại tại cụm rạp Galaxy Cinema Nguyễn Du và Galaxy Cinema Nguyễn Trãi. Bên cạnh đó, Galaxy Cinema Tân Bình cũng sẽ bổ sung phòng chiếu phim 3D ngay trong dịp khánh thành vào cuối tháng Tư tới. Như vậy, vào ngày 9/4, cả hai “đại gia” đều cùng nhau “xung trận” bằng bộ phim 3D thứ ba là Cuộc chiến giữa các vị thần.
Cùng với thế giới, trào lưu 3D khuấy động tại Việt Nam sau khi siêu phẩm Avatar chính thức ra mắt. Đón đầu trào lưu này, MegaStar đã cho ra đời hai phòng chiếu phim 3D tại MegaStar Hùng Vương và Vincom Hà Nội. Đến khi phim Alice lạc vào xứ thần tiên, bộ phim 3D thứ hai ra mắt, thì số rạp 3D của MegaStar đã lên đến 5 rạp.
“Thành công của Avatar chỉ là niềm tin để MegaStar tiếp tục đầu tư vào 3D. Lý do chính yếu vẫn là việc sản xuất cũng như thưởng thức phim đã trở thành trào lưu mới của thế giới, trong đó có Việt Nam. Trào lưu này sẽ còn phát triển trong thời gian dài sắp tới”, ông Brian Hall, Chủ tịch HĐQT Công ty Truyền thông MegaStar chia sẻ. Ông Brian Hall cũng cho biết thêm, nếu thị trường đón nhận tốt, đơn vị này sẽ đầu tư thêm vào 3D trong thời gian tới. Trong khi đó, theo ông Phan Tô Hồng Hải, từ tò mò, thử nghiệm, khán giả sẽ dần quen và 3D sẽ trở thành nhu cầu thiết yếu.
Xóa thế độc quyền của MegaStar, ngày 9/4, Galaxy Studio sẽ khai trương và đưa vào sử dụng hai phòng chiếu 3D hiện đại tại cụm rạp Galaxy Cinema Nguyễn Du và Galaxy Cinema Nguyễn Trãi. Bên cạnh đó, Galaxy Cinema Tân Bình cũng sẽ bổ sung phòng chiếu phim 3D ngay trong dịp khánh thành vào cuối tháng Tư tới. Như vậy, vào ngày 9/4, cả hai “đại gia” đều cùng nhau “xung trận” bằng bộ phim 3D thứ ba là Cuộc chiến giữa các vị thần.
Đầu tư cho một rạp chiếu phim 3D không nhỏ. Bình quân, mỗi rạp chiếu 3D của MegaStar được đầu tư gần 10 tỷ đồng. Phía Galaxy cũng bỏ ra gần 15 tỷ đồng để mang đến 3D cho khán giả. Tuy nhiên, phòng chiếu 3D thường là phòng nhỏ. Giới hạn về số lượng ghế trong mỗi rạp khiến khả năng hoàn vốn kéo dài khá lâu. Đại diện MegaStar cho biết, đơn vị này dự trù ba năm sau mới có thể lấy lại được số vốn đã đầu tư cho 3D.
Sự lớn mạnh của MegaStar và Galaxy trong cuộc chiến giành khách hàng khiến những đơn vị quốc doanh cũng bắt đầu “nóng mặt”. Nhân Liên hoan phim Việt Nam Việt Nam lần thứ XVI - 2009, các đơn vị chiếu bóng và pháp hành phim quốc doanh từ miền Trung trở vào đã ngồi lại với nhau. Giải pháp Digital Cinema được đặt ra và lập tức được sự hưởng ứng đông đảo.
Tiến đến việc không chiếu phim nhựa mà số hóa hệ thống rạp, phương pháp chiếu... đại diện của các đơn vị quốc doanh kỳ vọng có thể tạo nên một thế cân bằng mới vì Digital Cinema có khả năng giảm chi phí rất lớn.
Tuy nhiên, ngoài khó khăn về mặt cơ chế, nguồn phim chưa lấy gì làm chắc chắn đảm bảo, chi phí phải đầu tư sửa chữa lại nhà rạp, mua - thuê thiết bị chiếu D-Cinema, tỷ lệ ăn chia... vẫn còn nhiều vướng mắc nên đến bây giờ bây giờ đó vẫn chỉ là một ý tưởng còn nằm trên bàn mà chưa biết bao giờ mới thành hiện thực! 
 

Khám phá sự việc: Đầu tư “triệu”, doanh số “tỷ”

Hiện MegaStar đang sở hữu 49 phòng chiếu trong 7 cụm rạp tại Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Biên Hòa và TP.HCM. Ông Brian Hall, Chủ tịch HĐQT Công ty Truyền thông MegaStar không giấu nổi vui mừng mà nói: “Người Việt đã có thói quen đưa nhau đến rạp chiếu phim. Thị trường giải trí Việt Nam hiện nay là lĩnh vực đầu tư đầy triển vọng!”.
Trong năm 2009, có hai cụm rạp mới gồm Lotte Cinema, Saigon Paragon, với tổng số rạp chiếu lên đến 15 phòng chiếu. Dự kiến, trong năm nay, sẽ có bốn cụm rạp được khánh thành. Chưa bao giờ hệ thống rạp phim tại Việt Nam lại đón nhận đầu tư nhiều đến như vậy.

“Rạp tấn” đón "phim tấn"
Con số doanh thu gần 19 tỷ đồng của bộ phim Avatar sau một tuần khởi chiếu mới đây phần nào cho thấy “siêu lợi nhuận” của ngành kinh doanh phim ảnh tại Việt Nam. Xu hướng này được khẳng định qua doanh thu bán vé của các rạp chiếu phim trong cả nước năm 2009 tăng gần 40%. Mức tăng trưởng này thực sự là động lực thúc đẩy các hãng kinh doanh giải trí đầu tư vào xây dựng, mở rộng các rạp chiếu phim.
Hãng phim Giải Phóng cho ra đời mô hình hệ thống cụm rạp hiện đại Cinebox theo tiêu chuẩn quốc tế từ năm 2003. Từ cú hích này, đến nay cả nước có hơn 30 rạp với gần 200 phòng chiếu đang hoạt động. Với 25 triệu USD, MegaStar, liên doanh giữa Công ty cổ phần Văn hóa Phương Nam và Envoy Partner Media (Mỹ), có vốn đầu tư lớn nhất hiện nay.
Hiện MegaStar đang sở hữu 49 phòng chiếu trong 7 cụm rạp tại Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Biên Hòa và TP.HCM. Ông Brian Hall, Chủ tịch HĐQT Công ty Truyền thông MegaStar không giấu nổi vui mừng mà nói: “Người Việt đã có thói quen đưa nhau đến rạp chiếu phim. Thị trường giải trí Việt Nam hiện nay là lĩnh vực đầu tư đầy triển vọng!”.
Mức độ đầu tư lớn không kém là Thiên Ngân - Galaxy. Chỉ riêng đầu tư tầng hầm Nhà thi đấu Nguyễn Du thành một cụm rạp Galaxy có ba rạp chiếu với khoảng 1.000 ghế, Galaxy đã phải bỏ ra 15 tỷ đồng. Galaxy Nguyễn Trãi tuy nằm chật hẹp hơn ở tầng trên của Citi Mart nhưng vốn đầu tư cho việc cải tạo cũng lên đến 20 tỷ đồng...
Xu hướng những cụm rạp có nhiều phòng chiếu (3 - 20 màn ảnh) nằm trong những trung tâm thương mại giải trí phục vụ tối đa mọi nhu cầu giải trí, mua sắm của khán giả... ngày càng thắng thế, nhưng đòi hỏi các khoản đầu tư lớn hơn.
Lotte Cinema (Hàn Quốc) tham gia thị trường phim ảnh Việt Nam cũng bằng những đầu tư mạnh bạo. Hiện nay, Lotte Cinema có ba cụm rạp chiếu tại Việt Nam và có kế hoạch mở 30 siêu thị tại Việt Nam, đồng nghĩa với việc Lotte sẽ tiếp tục đẩy con số rạp chiếu phim tăng cao hơn nữa.
Thị trường đã đủ lớn
Khi Lotte còn đang tập trung cho siêu thị thứ hai ở tòa nhà The EverRich, thì Thiên Ngân - Galaxy cũng đang gấp rút xây dựng thêm cụm rạp Galaxy Cinema tại đường Nguyễn Hồng Đào, Q.Tân Bình, TP.HCM, dự kiến khai trương vào dịp lễ 30/4.
Với tổng diện tích sử dụng là 3.000m2, Galaxy Tân Bình có 5 phòng chiếu với thiết bị tối tân nhất. Ông Phan Tô Hồng Hải, Phó tổng giám đốc Galaxy Cinema tiết lộ, cuối năm 2010, đơn vị này sẽ có mặt tại thị trường Hà Nội. Theo kế hoạch phát triển, Galaxy sẽ tiếp tục xây dựng hai cụm rạp nữa trong năm 2011.
Chậm chân và quy mô nhỏ hơn nhưng hãng phim BHD cũng đang rục rịch trình làng cụm rạp mới ngay trong một siêu thị tại trung tâm Q.10, TP.HCM.
Theo tiết lộ từ MegaStar, sau ba tháng hoạt động đầu tiên, cụm rạp MegaStar Cineplex đã thu hút gần 100.000 lượt khán giả. Ông Brian Hall cho biết, doanh số toàn quốc của ngành trong năm 2008 lên đến hơn 218 tỷ đồng. Trong đó, MegaStar chiếm 134 tỷ đồng. Như vậy, mỗi ngày MegaStar thu về gần 500 triệu đồng. Mỗi quý, chỉ riêng tiền bán bắp rang đã lên đến 4 tỷ đồng!
Không cho biết con số cụ thể nhưng phía Galaxy cũng xác nhận, sự phát triển của thị trường đủ mạnh để họ tiếp tục đầu tư trong thời gian sắp tới. Vào các dịp đặc biệt như lễ, Tết, doanh thu tại các rạp còn hấp dẫn hơn.
Số liệu từ Trung tâm Chiếu phim Quốc gia Hà Nội cho thấy, trong dịp Tết Nguyên đán 2010, cụm rạp này đón gần 70.000 lượt khách, thu về hơn 7 tỷ đồng. Trong con số gần 20 tỷ đồng doanh thu mỗi phim Tết, theo tỷ lệ hợp tác thông thường, sẽ có khoảng 40% thuộc về các rạp.
Ảm đạm “rạp nhà”
Đối nghịch với sự phát triển của thị trường phim ảnh là sự ảm đạm của tình trạng phát hành phim và kinh doanh hệ thống các rạp quốc doanh.
Theo số liệu từ Cục Điện ảnh Việt Nam, cho đến năm 2008, số lượng cụm rạp chiếu phim nhựa của các đơn vị, cơ sở điện ảnh ngoài quốc doanh chiếm tỷ lệ 8/10 trên toàn TP.HCM, chiếm hơn 1/2 tổng số rạp chiếu phim nhựa trên cả nước. 
Tuy nhiên, ngoại trừ rạp Thăng Long được giao cho Công ty BHD, thử nghiệm cho mô hình tư nhân hợp tác đầu tư, quản lý rạp của nhà nước có chiếu phim mới, do chính BHD phát hành, thì những rạp khác chỉ chiếu lại phim của MegaStar và Galaxy (sau khi hai hệ thống này đã ngưng chiếu). 
Lý do của việc đi sau rất rõ ràng, phim càng cũ thì tỷ lệ ăn chia giữa nhà phát hành và rạp chiếu càng thấp xuống. Chiếu phim sau nên các rạp quốc doanh phải giảm giá vé, đánh vào phân khúc khách hàng bình dân.
Chính vì vậy, số khán giả đến với Galaxy là gấp 1,5 lần rạp quốc doanh, tương đương 450.000 lượt/năm và khách của MegaStar là gấp hai lần, tương đương 600.000 lượtnăm.

Tìm hiểu sự việc miếng ngon khó xơi

Tiềm lực mạnh như thế nhưng khi bước vào thị trường Việt Nam, bất cứ đơn vị kinh doanh hệ thống rạp chiếu phim đều phải đối mặt với vấn đề khó khăn nhất là mặt bằng. Mặt bằng đủ rộng để đặt cụm rạp chiếu hiện nay khá hiếm, chủ yếu chỉ đặt ké ở các cao ốc lớn. Điều này khiến chi phí mặt bằng đội lên cao. “Khó khăn về mặt bằng là một trong những lý do khiến Galaxy sau 5 năm mới có thể cho ra đời cụm rạp thứ ba”, ông Phan Tô Hồng Hải cho biết.
Phân chia và cát cứ
Được hai hãng phát hành phim lớn nhất Hollywood là United International Pictures (UIP) và Buena Vista International (BVI) ủy thác phát hành phim độc quyền tại Việt Nam, không cần qua cơ chế đấu giá, mua bản quyền chiếu phim, MegaStar làm việc trực tiếp với các studio lớn của Hollywood như Paramount/Dreamwork, Universal, Disney/Pixar...
Vì vậy, MegaStar gần như tiếp cận trực tiếp toàn bộ những phim đình đám của Hollywood. Đó chính là lý do vì sao những phim bom tấn chiếu tại Việt Nam, từ Người sắt, Mia Mia cho đến Chạng vạng, Trăng non, Đảo kinh hoàng, Kẻ cắp tia chớp... đều có mặt ở MegaStar đầu tiên. Phải mất hai tuần cho đến một tháng sau đó, những bộ phim này mới có mặt tại hệ thống rạp khác.
Tương tự, Thiên Ngân - Galaxy cũng có lợi thế là chuyên phát hành cho các hãng như Warner Brothers, Columbia Pictures và một số các hãng phim độc lập lớn như Weinstein, Media Asia, Kathy Morgan International... Trong khi đó, hai tập đoàn giải trí CJ và Showbox, nhà phân phối phim hàng đầu của Hàn Quốc đã ký hợp đồng với Lotte Cinema. BHD có lợi thế ở thị trường điện ảnh Hoa ngữ...
Đa phần, những phim do tư nhân nhập về, phát hành đều sau thị trường thế giới không lâu. Có những phim như Mắt đại bàng chỉ ra mắt sau Mỹ đúng một tuần. Khoảng cách thời gian ngày càng được rút ngắn hơn. Đến siêu phẩm Avatar thì thời gian chiếu là cùng lúc với Mỹ.
Nền tảng vững chắc của các đối tác chính là công cụ đắc lực để những nhà đầu tư đủ sức khuynh đảo thị trường giải trí Việt Nam. “Ưu thế của MegaStar cũng như Galaxy trong phân phối phim là rào cản đối với bất kỳ nhà đầu tư nào muốn nhảy vào thị trường phim ảnh tại Việt Nam.
Thực sự phim ảnh không phải là mảnh đất dễ đầu tư dù có tiền”, một nhà đầu tư có kế hoạch xây dựng cụm rạp tại Thủ Đức cho biết. Ông này cuối cùng cũng đành phải bỏ giấc mộng đầu tư phim ảnh sau một năm theo đuổi.
Tiền tỷ và bạc cắc
Tiềm lực mạnh như thế nhưng khi bước vào thị trường Việt Nam, bất cứ đơn vị kinh doanh hệ thống rạp chiếu phim đều phải đối mặt với vấn đề khó khăn nhất là mặt bằng. Mặt bằng đủ rộng để đặt cụm rạp chiếu hiện nay khá hiếm, chủ yếu chỉ đặt ké ở các cao ốc lớn. Điều này khiến chi phí mặt bằng đội lên cao. “Khó khăn về mặt bằng là một trong những lý do khiến Galaxy sau 5 năm mới có thể cho ra đời cụm rạp thứ ba”, ông Phan Tô Hồng Hải cho biết.
Sự xuất hiện cùng lúc quá nhiều rạp chiếu phim khiến miếng bánh thị phần phải xẻ nhỏ trong khi tốc độ nở ra chưa cao. Vì điều này mà tất cả các rạp chiếu đều phải nỗ lực tìm kiếm khán giả mới, nằm trong độ tuổi của học sinh, sinh viên...
Theo một nguồn tin, dù có doanh thu lớn nhưng chi phí khấu hao và vận hành các cụm rạp quá lớn đã khiến một “ông lớn” trong ba năm liên tục, tính từ năm 2006 đến nay, lỗ khoảng 6 triệu USD. Cụm rạp Saigon Paragon Plaza (khai trương Tết Kỷ Sửu 2009 ở Khu đô thị Phú Mỹ Hưng, TP.HCM) phải đóng cửa cũng phản ánh mức độ khốc liệt của thị trường này.
Chưa kể chi phí bản quyền, bình quân giá mua một bản phim hiện nay dao động trong khoảng 1.200 - 1.500USD. Vì vừa phát hành, vừa kinh doanh rạp nên chí ít, mỗi đơn vị phải mua 5 - 7 bản phim, phục vụ cho các cụm rạp.
Tính ra, chi phí bỏ ra để có phim chiếu ngốn hết 52 - 60% doanh thu. Vậy mà, đến Lotte Cinema vào suất 21 giờ mới đây, cả rạp lớn chỉ có một đến ba người xem nhưng vẫn phải duy trì hoạt động của suất chiếu dù biết chắc chắn là thu chẳng bằng chi.
Những khó khăn và đòi hỏi lớn về đầu tư khiến những người trong ngành ví von việc kinh doanh rạp chiếu phim hiện nay tuy doanh thu hấp dẫn nhưng vẫn không khác việc đổ núi tiền ra rồi ngày ngày lượm bạc cắc.
Tuy nhiên, đây lại là chiến lược lâu dài vì đáp ứng nhu cầu giải trí xem phim ở rạp của người dân tại Việt Nam hiện nay là quá thấp. Lợi thế về dân số trẻ khiến người đầu tư rất lạc quan ở tương lai. Ông Brian Hall khẳng định, sự cạnh tranh trong ngành công nghiệp giải trí tại Việt Nam với sự tham gia của tất cả các thành phần từ nhà nước đến tư nhân và nước ngoài sẽ trở nên khốc liệt hơn.